Phòng GD&ĐT Huyện Hướng Hoá Tỉnh Quảng Trị - ĐC: Khóm 3B, TT Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị - ĐT: 053.3880514
Trang chủ
Giới thiệu
Chi bộ Đảng
Phòng GD&ĐT
Công Đoàn
Tổ chức cán bộ
Tài chính - Kế hoạch
Mầm non
Tiểu học
Trung học cơ sở
Lịch công tác
Thống kê số liệu
Khuyến học
Nghiên cứu - Trao đổi
VB chỉ đạo Bộ-Sở
Tập san vì sự TBPN
Góp ý
Văn bản Phòng GD&ĐT
PHỎ CẬP GIÁO DỤC
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Lượt truy cập:
imageCnt   
 
THƠ TỰ DO VÀ LỤC BÁT HOÀNG CẦM Ths Nguyễn Trình Chuyên viên Phòng GD& ĐT Hướng Hóa

Hoàng Cầm là thi sĩ phong tình lãng mạn. Tiếp nối truyền thống sáng tác của phong trào Thơ Mới ông kế thừa và mở rộng khả năng phản ánh của các thể loại thơ ca làm đa dạng hóa hình thức thơ trữ trình Việt Nam hiện đại. Do điều kiện không cho phép, bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích thể loại chủ âm của ông là thơ tự do và thơ lục bát.

   THƠ TỰ DO VÀ LỤC BÁT HOÀNG CẦM

                                                                                            

                                                                                  Ths Nguyễn Trình

                                                           Chuyên viên Phòng GD& ĐT Hướng Hóa

 

          Hoàng Cầm là thi sĩ phong tình lãng mạn. Tiếp nối truyền thống sáng tác của phong trào Thơ Mới ông kế thừa và mở rộng khả năng phản ánh của các thể loại thơ ca làm đa dạng hóa hình thức thơ trữ trình Việt Nam hiện đại.

         Do điều kiện không cho phép, bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích thể loại chủ âm của ông là thơ tự do và thơ lục bát.

1.      Thể thơ tự do:

        Thơ tự do Hoàng Cầm viết theo một lối riêng và hiện đại. Dưới ngòi bút tài hoa của ông thể thơ này có sự trương nở về biên độ phản ánh và cấu trúc hóa nhạc điệu câu thơ. Hình thức thơ biến hóa linh hoạt, câu thơ uốn lượn một cách thoải mái theo cơn bão cảm xúc của tâm hồn, nhịp rung của trái tim. Nhà thơ tốc kí trọn vẹn những xao động của tâm linh rồi thăng hoa:

 

                            - “Gió quê vi vút gọi

                  … Diêu Bông hỡi

                                              … ới Diêu Bông”.

                                                       

- “Em mười hai tuổi tìm theo chị

Qua cầu Bà sấm bến Cô mưa

                              Đi…

                              Ngày tháng lụi

                            tìm không thấy”.

       Thi sĩ Hoàng Cầm có tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922, tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

        Tác phẩm:

        Những bài thơ lẻ (1941-1980); Tiếng hát quan họ (1965); Về Kinh Bắc (1959 – 1960); Mưa Thuận Thành, Lá diêu bông, Tình khúc, Đến từ hư không (1995 – 2000).

 Thi sĩ Hoàng Cầm như chắt lấy những tinh túy của tâm hồn để viết nên những bài thơ hay và đẹp về tình yêu và thân phận kiếp người nổi trôi giữa cuộc bể dâu.

 Về Kinh Bắc là tập thơ nổi tiếng của ông và của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Tập thơ gồm có 48 bài thơ tự do. Câu thơ tự do dài ngắn xen kẽ lẫn nhau và uốn lượn rất độc đáo.

Tiếp nối phong trào Thơ Mới Hoàng Cầm tiếp tục đổi mới hình thức thơ trữ tình Việt Nam hiện đại.

 So sánh hình thức thơ tự do Hoàng Cầm với thơ tự do trong phong trào Thơ Mới thì có những cách tân khác biệt: câu thơ của ông có sự giãn nở đến cực đại để phản ánh đời sống hiện thực khách quan mà vẫn không giảm chất trữ tình đằm thắm và lãng mạn.

Nếu thi sĩ Mộng Sơn thuộc nhóm Tao Đàn Bạch Nga của thời kì Thơ Mới viết những câu thơ 12 chữ mang âm hưởng nặng nề, tiết tấu chập chạp như:

 

“Tôi đến đây, Lữ khách ơi lòng quạnh hiu như bóng xế

                                 Tôi sẽ còn đến đây với những cành hoa đượm lệ

                                Để tôi nghe khóc hồn anh lâm ly suối chảy bên đồi

                                Để tôi nghe khóc hồn anh những giọt suối lòng tôi”.

                                                                                                    (Viếng mồ Lữ khách)

 

Trái lại, câu thơ tự do Hoàng Cầm dài từ 12 đến 46 chữ vẫn chan chứa cảm xúc và vang âm tính nhạc (Đêm liên hoan, U gì, Quan họ mở đầu, Tương biệt hành…):

                                                   

                                                    “Nhẩn nha thôi

Ôi dìu nhẹ buông tênh…tang vờ câm

                                                    Ai nện xin thương ngầm

                                      gõ hờ đôi ba tiếng cuối buồn vang âm

                                                    Vì tay ải tay ai

              chưa nguôi tê mê thầm

 

                                                    Chợt bừng nghìn cây nến đỏ

            như sững sờ nghìn tội

biết lội về đâu

                  cho qua cơn thịnh nộ sầu

                                                   cụ  Tiên chỉ già tuổi tình cạn kiệt

  tóc héo bưng đầu

  lùi lũi tiếc thời xa

                                                             khua gậy cùn rập mấy thời sau

  xanh ngây ngây đêm sông Cầu

                                                     Em anh giờ lẩn trốn bụi bờ đâu.”

                                                                  (Hội chen Nga Hoàng)

 

Câu thơ tự do gần giống với văn xuôi nhưng không phải là câu văn xuôi bởi nó giàu tính thơ, chất nhạc.

Vận dụng sáng tạo thủ pháp lặp lại cấu trúc (một phần hoặc toàn bộ) câu thơ và kiểu vắt dòng mới mẻ. Hoàng Cầm kiến tạo câu thơ mượt mà về âm điệu và hình ảnh lung linh cảm xúc gợi lên những chuỗi liên tưởng kép bất ngờ, thú vị (Nước sông Thương, Đứa trẻ, Trai đời Trần…):

 

“Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh

(…) Ta con chim cu về gù rặng tre

                       đưa nắng ấu thơ về sân đất trắng

                                                                       đưa mây lành những phương trời lạ về tụ nóc cây rơm”.

                                                                                                                                                                                                                          (Về với ta)

 

 Sự uyển chuyển về tiết tấu tạo sự nên giao thoa giữa hai bờ thực và mơ; giọng thơ như lãng đãng cảm xúc luyến tiếc đến ngẹn ngào:

 

                                                                 “Chị lỡ xe hồng

                                                                 Mẹ đi lấy chồng

                                                     Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc

                                                     Mật vàng mộng rách vỏ nâu non

 

(…) Khấn thầm gặp chị

Em vẫy nón đầu làng”.

                                   (Đợi mùa)

 

            Hình thức câu thơ bậc thang rất gợi cảm:

“Bao nhiêu núi đồi Kinh Bắc

dịch sườn thông sang xúm xít

quanh hàng mi nắng động trong hồ”.

                                                                      (Đèn nhang 2)

 

Hoặc sự ngắt quảng đột ngột câu thơ như dồn nén cảm xúc để diễn tả trọn vẹn những tâm tình:

 

                                                   “ Con tắm ao lội ngòi

               tồng ngồng đi tìm hoa dại

                                                   Không chết đuối không ai hay

                                                  Không lạc nhà

  mẹ vẫn dành cơm đấy”.

                                     (Đứa trẻ)

 

Cấu trúc hình thức câu thơ tự do đầy âm vang, Hoàng Cầm lấy sức mạnh của nhịp làm nền cho vòng xoáy nhạc điệu:

 

“Bao giờ về Bên kia sông Đuống

                                                        Anh lại tìm em

                                                        Em mặc yếm thắm

                                                        Em thắt lụa hồng

                                                        Em đi trẩy hội non sông

               Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”.

                                                                       (Bên kia sông Đuống)

 

             Như vậy, sự phong phú tính nhạc trong thơ biến đổi tùy theo sự thay đổi tuyến tính của câu và dòng thơ. Câu thơ đẹp về âm điệu như:

 

                                                        “Luồn tay ôm say

           giấc bay lay đỉnh núi

                                                                 tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành”.

                                                                                                        (Thi đánh đu)

 

            Qua quá trình lao động nghệ thuật cần mẫn Hoàng Cầm mang lại một sức sống mới cho thơ tự do Việt Nam. Tính giản nở linh hoạt và sự không ràng buộc về luật tắc vần nhịp của thơ tự do là điều kiện để nhà thơ phô diễn những cung bậc cảm xúc muôn màu, những khoảnh khắc hứng khởi và biến thái vi diệu trong đời sống tinh thần  của con người hiện đại.

2.      Thể thơ lục bát:

Thơ lục bát Hoàng Cầm luôn vận động và phát triển. Tiếp nhận tinh hoa từ nền thơ ca truyền thống, thơ lục bát của ông vẫn mang âm hưởng ngọt ngào của ca dao dân ca. Yếu tố trữ tình dân gian cũng khá đậm nét:

“Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng

Nhớ em từ miếng cơm không

Hai năm bát mẻ đũa còng chia nhau”.

                                                 (Ngày giỗ)

 

“Bao giờ phận xế về em

Nắm tay được mấy hạt đêm Kim Kiều

Mấy là thương mấy là yêu

Mắt trăng thuở ấy mấy chiều đỏ hoe”.

                                                         (Mai sau dù có bao giờ)

Mặc dù có những câu thơ lục bát bí hiểm, khó hiểu nhưng lời thơ lại rất đẹp và mượt mà âm điệu:

“Ánh trăng nhẹ gót sương ngon

Đài hương tím bỗng uốn mình nở rộ”

 

 Hoàng Cầm phá vỡ cú pháp lục bát truyền thống để sáng tạo lại một hình thức lục bát mới mẽ và sinh động hơn. Biến hình thức thơ ca uyển chuyển rất nhịp nhàng này thành thể thơ giàu tính mỹ học và trầm tích năng lượng nghệ thuật.

Nhà thơ đã ngắt dòng câu thơ một cách độc đáo khiến nhịp thơ rơi rất tự nhiên theo dòng cảm xúc. Câu thơ (6/8) biến hóa linh diệu bởi cách vắt dòng sáng tạo:

Câu thơ (6/8) vắt thành hai dòng theo nhịp 3/3, 4/4 :

 

                                                             “Miền in thắm

       thắm môi tê

                                                              Hôn em cạn máu

              đi về tận không”.

                                    (Tu)

    Câu thơ (8) vắt thành 3 dòng theo nhịp 4/2/2 và 2/2/4:

 

-         “Nắng em nắng đến siêu hình

                                                                 Như môi như mắt

                                  như mình

                                                         như không”.

                                                                            (Nghĩ thương)

 

-         “Tình cờ đâu triệu triệu năm

                                                           Bỗng nằm

    bỗng thắm

                                                bỗng chằm hai chân”.

                                                                    (Thèm)

        Hoặc câu thơ (8) vắt thành 3 dòng nhưng lại theo nhịp 3/3/2:

 

“Tôi về nhặt lá đáy khe

                                                                Ném lên cao

                 lặng mình nghe

                                                   thật người”.

                                                                     (Tu)

 

           Thơ lục bát Hoàng Cầm giàu giá trị tạo hình. Bài thơ có hình thức giống bức tranh hội họa của trường phái ấn tượng mà chất liệu chính là ngôn từ nghệ thuật, kiểu như:

 

Viết trong quán cà phê

 

                                                                “Ly cà phê nửa

        tỉnh

                   

                                                  Từng đôi sớm biết đi về có nhau

                                                     Còn em

                                                              lãng đãng đi đâu

                                                Anh về

                                                           so sẫm

                                                                    đũa màu

                                                                            gỗ mun

                                                     Chơ vơ riêng chiếc bữa thường

                                              Qua phim hồng hạnh

                                                                    giọt buồn lọc mau

              Ai nhường nửa giọt chung màu

                                                          Cho tôi tỉnh táo khuấy sầu

                                          tan chăng”.

 

                       Bài thơ gồm 8 câu vắt thành 16 dòng. Cách ngắt dòng đột ngột. Câu thơ bậc thang theo nhịp 2/2/2/2 vắt thành bốn dòng nằm giữa bài thơ, mỗi dòng như vậy đều mang một nét nghĩa biểu đạt cụ thể. Kiến tạo hình thức thơ theo kiểu tạo hình ấn tượng làm xuất hiện các khoảng lặng, không gian trắng trên hình thức thơ lục bát tăng tính đa âm cho thế giới nghệ thuật. Những câu thơ như run rẩy và buông lơi từ trái tim của thi sĩ ngân mãi giai điệu bâng khuâng tiếc nuối.

                       Một đặc điểm khác của thơ lục bát Hoàng Cầm là nhiều câu hỏi tu từ vang âm trong cấu trúc khuôn nhịp bài thơ. Với mục đích là vừa tạo điểm nhấn ngữ điệu vừa có tác dụng chống lại sự bão hòa và tự động hóa cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc.

                       Trong thơ lục bát câu hỏi tu từ luôn tạo hiệu ứng nghệ thuật và gây ảo giác cảm xúc. Cho nên nỗi nhớ thường trực trong thơ như miên man đi vào cõi vô cùng của miền mộng tưởng: “Em ngồi đâu? Chị đứng đâu/ Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không/ (…) Em chìm chưa? Chị nổi chưa/ (…) Em mê ru? Chị mộng du? (…) Em về chưa? Chị đến chưa?”... (Gọi đôi); “Em đi lâu thế? về đâu?/ Sao đi xa thế? bao lâu em về? (Thể phách tinh anh).

                       Dưới ngòi bút tài hoa của thi sĩ thể loại thơ lục bát đã kết tinh những giá trị mĩ học mới.

 

***

                       Hoàng Cầm là nhà thơ tình lãng mạn nổi tiếng của văn học Việt Nam trong thế kỉ XX. Qua việc giải mã hình thức thơ chúng ta có thể khái quát rằng; thơ ông có sự kết hợp hài hòa giữa mỹ học truyền thống với mỹ học hiện đại. Thể hiện một kiểu tư duy thơ độc đáo in đậm cá tính sáng tạo nghệ thuật. Những cách tân của nhà thơ về mặt hình thức thơ tự do, lục bát là có giới hạn nhưng đó là đóng góp quan trọng có ý nghĩa  thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa thể loại thơ ca Việt Nam hiện đại.

                       Tóm lại, thơ Hoàng Cầm là một dòng riêng giữa nguồn chung. Đúng như nhà lý luận văn học James Johnon Sweeney khẳng định: “Sự đóng góp đúng mức của nghệ thuật trong một thời đại không chỉ là phản ánh chính xác về thời đại ấy, mà phải tạo nên được những cái mà thời đại ấy còn thiếu”.

                                                                       Tân Xuyên, ngày 19 tháng 6  năm 2009

                                                                                           N.T


Bản quyền trang web thuộc phòng GD&ĐT Huyện Hướng Hoá - Tỉnh Quảng Trị
Phát triển bởi Trung Tâm Phát Triển Công Nghệ Thông Tin - Viễn Thông Quảng Trị
ĐC: 20 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Quảng Trị
ĐT: 053 3556911 -Website: http://vnptquangtri.com.vn