Phòng GD&ĐT Huyện Hướng Hoá Tỉnh Quảng Trị - ĐC: Khóm 3B, TT Khe Sanh, Huyện Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị - ĐT: 053.3880514
Trang chủ
Giới thiệu
Chi bộ Đảng
Phòng GD&ĐT
Công Đoàn
Tổ chức cán bộ
Tài chính - Kế hoạch
Mầm non
Tiểu học
Trung học cơ sở
Lịch công tác
Thống kê số liệu
Khuyến học
Nghiên cứu - Trao đổi
VB chỉ đạo Bộ-Sở
Tập san vì sự TBPN
Góp ý
Văn bản Phòng GD&ĐT
PHỎ CẬP GIÁO DỤC
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Lượt truy cập:
imageCnt   
 
Dã quỳ nở muộn

Như gom cả nắng hè để bừng lên cuối đông lạnh giá cái màu vàng rực, hoa Dã quỳ khoe mình rực rỡ bên triền núi, suốt con đường dài ngút ngàn vào bản. Đã cuối đông, nắng nhạt dần trên động Bà Rai, cái nắng yếu ớt không xua được hơi lạnh miền sơn cước. Dòng Sêpănghiêng vẫn lững lờ uốn quanh. Trong khói lam chiều, bếp lửa nhà ai dậy lên mùi ngô nướng

DÃ QUỲ NỞ MUỘN

          Như gom cả nắng hè để bừng lên cuối đông lạnh giá cái màu vàng rực, hoa Dã quỳ khoe mình rực rỡ bên triền núi, suốt con đường dài ngút ngàn vào bản. Đã cuối đông, nắng nhạt dần trên động Bà Rai, cái nắng yếu ớt không xua được hơi lạnh miền sơn cước. Dòng Sêpănghiêng vẫn lững lờ uốn quanh. Trong khói lam chiều, bếp lửa nhà ai dậy lên mùi ngô nướng. Cái cảm giác quen thuộc của 30 năm trước khiến bước chân tôi vội vã vào bản.

Tôi chợt nhớ lại tất cả. Nhớ cái thời mà bạn bè bảo tôi là kẻ phiêu lưu mạo hiểm khi tình nguyện đến mảnh đất Hướng Lập xa xôi này. Mới đó mà đã 30 năm! Ký ức ùa về trong tôi…

          Tốt nghiệp Trung học Sư phạm, tôi nhận Quyết định lên công tác tại huyện miền núi Hướng Hóa. Với chút hơi hướng lãng mạn, bay bổng và một chút bốc đồng, tôi trình bày nguyện vọng với thầy Trưởng Phòng Giáo dục huyện muốn đến nơi nào xa nhất. Đó là năm đầu tiên Hướng Lập có giáo viên nữ.

Vừa ra khỏi huyện lỵ, con đường nhựa, dấu tích văn minh cuối cùng đã từ giã tôi. Nó ngập ngừng dừng lại phía sau mở ra con đường đất đỏ với vô vàn lồi lõm nhiều khê, vết tích không chối cãi được của mùa mưa rừng hung bạo vừa đi qua vùng này. Gió lên bụi hồng đất đỏ bazan thổi tung mù mịt. Con đường nhỏ dần, nhỏ dần khúc khỉu cuối cùng chỉ là lối mòn len lỏi giữa vô vàn cây cối và sỏi đá. Mặt đường chẳng còn phẳng phiu nữa, lục cục nhấp nhô những đá với cuội. Một giọt nước nhồn nhột bò trên má. Mồ hôi hay nước mắt? Tôi cười, quyết không để một giọt buồn vương trên mắt. Năm ấy tôi tròn 20 tuổi.

          Điểm trường Cù Bai hiện ra trong sương chiều lãng đãng. Gọi là lớp học nhưng nó chỉ là túp lều tranh nho nhỏ. Tôi chạnh lòng khi nhìn ngôi trường lợp mấy xấp lá mây nước vênh vẹo hở ra cả vạt nắng ẩn dưới gốc cây cổ thụ mấy người ôm không xuể.

          Bước vào lớp nồng nặc mùi mốc, mùi phân dê, phân chuột, cột kèo đầy bụi xơ xác. Phên nhà mối đùn đất lên tung tóe màu đỏ quạch nham nhở.

          Học sinh là những đứa trẻ bụng ỏng, da vàng, hầu hết gầy rạc, dấu hiệu của suy dinh dưỡng kéo dài, tóc tai nhiều ngày không cắt dài quá vai, cháy nắng vàng râu ngô. Tôi băn khoăn làm sao đây: cần phải dạy chữ đồng thời phải chữa bệnh, phải làm vệ sinh, cắt tóc, cắt móng tay, tắm rửa, may vá, phải thổi làn gió văn minh vào nơi này, phải làm sao cho tối thiểu cũng phải ra cái trường, cái lớp.

Để làm được điều đó tôi đã mất khá nhiều công sức và được  sự ủng hộ của già làng và bà con thôn bản.

          Như thường lệ trước buổi học tôi đưa các em ra sông vệ sinh tay chân mặt mũi. Lũ học trò thích lắm, tiếng nói, tiếng cười, tiếng quẫy nước rộn trên mặt sông. Hôm ấy chẳng hiểu sao Hồ Pây - cậu học trò nghịch nhất lớp lại đến muộn. Khi các bạn đã về lớp em mới lững thững xuống sông. Dòng Sêpănghiêng đang hiền hòa trong xanh là vậy bỗng đỏ ngàu cuộn chảy. Pây đã ra khá xa tôi vội chạy ào ra. Vừa cầm được tay em thì dòng nước cuồn cuộn cuốn tôi và em ra xa…

Giật mình thảng thốt tôi gọi: “Pây ơi, Pây ơi” mà đầu nhức như búa bổ, chân tay như ai trói chặt. Một bàn tay nhè nhẹ đặt lên trán, tôi mở mắt. Bộ quân phục màu xanh, quân hàm xanh và ánh mắt trìu mến của anh đã làm tôi tỉnh lại.

          Ba ngày liền tôi nằm lại Đồn Biên phòng Cu Bai với sự chăm sóc tận tình chu đáo của anh em chiến sỹ mà đặc biệt là anh quân y có cái tên như con gái, Giang – là tên anh.

          Pây và bố của em đến thăm tôi. Nghe mọi người kể lại tôi mới hiểu mọi chuyện xảy ra với mình vào cái ngày hôm ấy. Trên đường đi công tác về qua khúc sông này, thấy cô trò đang bị nước cuốn trôi, Giang đã lao ra vật lộn với nước lũ để kịp đưa tôi và em Pây vào cấp cứu. Con trai núi rừng nên Pây chóng hồi phục, còn tôi "liễu yếu đào tơ" nên Giang phải chăm sóc dài ngày.

          Từ ngày đó tôi và anh như một đôi trời định. Giang như con thoi, sớm Cu Bai, trưa Tà Păng, mai lại đến Cuôi, Xê pu... Ở đâu có "con ma bắt người ốm" là ở đó có anh. Dần dần bà con dân tộc không còn cúng con ma nữa mà chỉ chờ thuốc của bộ đội Giang cho hết cái sốt, hết cái đau bụng, đau đầu thôi.

          Thấy giáo viên trường tôi còn ít, địa bàn xã lại rộng, Ban chỉ huy đồn Biên phòng Cù Bai đã chủ động đề xuất mở thêm các lớp xóa mù chữ cho bà con. Thế là hình ảnh những thầy giáo mang quân hàm xanh đêm đêm bên ngọn đèn dầu dạy chữ trở nên gần gũi quen thuộc với dân bản. Tôi theo Giang đến lớp xóa mù, tôi cùng anh vận động bà con làm vệ sinh thôn bản, thấy tôi lúng túng về ngôn ngữ Giang dạy tôi tiếng Vân Kiều. Tôi cũng có quyển vở và ngay đêm đầu tiên dưới ánh sáng cây đèn dầu chập chờn tôi đã căng mắt ra ê a bài đọc vỡ lòng tiếng Vân Kiều. Chỉ mấy tháng sau tôi đã có thể nghe hiểu và bập bẹ vài câu xã giao. Tôi học Giang cắt tóc cho lũ trẻ con. Tôi cắt đã đẹp, không còn "lợp ngói" như buổi đầu. Và bọn học trò cũng đã chập chững đánh vần. Những bàn tay chai sạn chỉ quen cầm rựa phát rẫy, chọc giã gạo nay cũng đã biết lóng ngóng cầm bút nắn nót viết cái chữ khá đẹp.

          Rồi một đêm, trăng mùng 10 mang nét đẹp tinh khôi. Cả núi rừng như dát bạc. Bên dòng Sêpănghiêng lấp lánh trăng thu huyền bí, Giang ôm cả một bó dã quỳ vàng rực trao vào tay tôi, khẽ nói:

          -  Từ tuần sau anh không cùng em đến lớp nữa rồi, anh phải chuyển công tác. Lớp xóa mù ở Cuôi anh Hòa sẽ đảm nhận.

          Tôi bàng hoàng

          - Anh chuyển đi đâu vậy?

          - Anh vừa được điều động vào công tác ở Tây Ninh, ở đó đang rất khó.

          Anh dừng lời. Tôi hiểu cuộc đời người lính Biên phòng là vậy. Đâu cần là có các anh nhưng lòng vẫn buồn rười rượi.

          Bản làng chìm trong màn sương bạc, đôi Từ quy chóp bóp nấc kêu lạc lõng trong không gian yên ắng. Chỉ hoa dã quỳ nở đúng độ thu cứ rực lên tươi thắm. Đêm đó tôi nhận từ anh lời yêu.

          Mùa thu năm sau, hoa dã quỳ nở vàng tươi khắp bản, tôi nhớ anh nhớ đến nao lòng. Nhưng những cánh thư không còn vượt núi băng ngàn đến với tôi nữa..Cho đến một ngày tôi nhận được tin Giang đã hy sinh tại biên giới Tây Ninh. Tôi khóc, cả bản khóc. Pây và lũ học trò ôm về những bó hoa dã quỳ vàng như nắng. Tôi kết vòng hoa tưởng nhớ anh.

          Có lẽ sự ra đi của anh khiến tôi trầm lắng nên lớp học của tôi ngày nào các em cũng đi học đông đủ. Các em hiểu đó là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi.

          Miệt mài với công việc dạy chữ, lại ở lâu với đất này nên tôi hiểu và nhận ra dân tộc Vân Kiều có một sức sống kỳ lạ. Những câu chuyện cổ tích, những khúc dân ca tình tứ, những bài hát ru chứa chất bao nhiêu tình thương của những tấm lòng nhân hậu. Vốn quý tiềm tàng ấy của một dân tộc một ngày không xa chính con cháu của họ - thế hệ như Pây, như Rai học trò của tôi sẽ sưu tầm, sẽ viết nên để giữ bản sắc văn hóa dân tộc mình…

Hôm nay lặn lội lên Cuôi, đường vẫn gập ghềnh đèo dốc, vẫn lội suối băng rừng nhưng đường đã mở rộng hơn xưa. Lặng lẽ ngắm nhìn những mái đầu nghiêng nghiêng bên trang vở, lòng tôi dâng trào một cảm xúc khó tả. 24 học viên trẻ già đang đánh vật với cái chữ. Gương mặt ai cũng lấm tấm mồ hôi nhưng ánh mắt lại rạng ngời trong ánh điện. Hai phòng học khang trang, ánh điện thắp sáng thay cho ngọn đèn dầu leo lắt trong căn phòng tuềnh toàng năm xưa. Đó là một sự đổi thay. Cái máy phát điện dùng sức nước mà Đồn Biên phòng 605 nhận từ Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Trị đã thắp sáng cho lớp xóa mù bản Cuôi để những đêm học không còn tăm tối. Vẫn thầy giáo mang quân hàm xanh ngày canh giữ biên cương, đêm gieo chữ giữa đại ngàn Trường Sơn. Một hình ảnh đẹp không bao giờ phai trong ký ức tôi và cả những người dân Hướng Lập.

          Trăng tròn bóng, cây rừng xòe cành lá sum suê che rợp mặt trường. Chim se, chim phao, chim săn sắt đuổi nhau chấp chới trên nương lảnh lót hót vang giữa rừng. Núi ngàn bừng dậy, cả bao âm thanh dào dạt ngân nga. Tự đáy lòng tôi dâng lên niềm cảm  mến, yêu thương mảnh đất miệt rừng heo hút này.

          - Em chào cô!

          Tiếng chào bất ngờ làm tôi bừng tỉnh.

          - Cô không nhận ra em à? Em là Pây đây.

          Trước mắt tôi một chiến sĩ biên phòng da ngăm đen rắn rỏi. Buông quyển sách xuống bàn, Pây hồ hởi nắm đôi bàn tay tôi xúc động.

          - Thượng úy rồi à thầy giáo mang quân hàm xanh? – Tôi cười hỏi em.

          - Vâng! Thưa cô em đang dạy lớp xóa mù cho dân bản như ngày xưa cô và chú Giang đã làm.

          Tên anh - dòng sông nơi bản vắng chưa phai mờ. Và trong tôi vẫn cuộn chảy nỗi nhớ thương dẫu đã là dĩ vãng.

          Pây chỉ ra triền núi, một vầng sáng vàng rực dưới trăng. Ôi! Hoa dã quỳ, cuối đông mà vẫn còn rực rỡ.

                   Năm nay hoa Dã quỳ nở muộn.

Bản quyền trang web thuộc phòng GD&ĐT Huyện Hướng Hoá - Tỉnh Quảng Trị
Phát triển bởi Trung Tâm Phát Triển Công Nghệ Thông Tin - Viễn Thông Quảng Trị
ĐC: 20 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Quảng Trị
ĐT: 053 3556911 -Website: http://vnptquangtri.com.vn